Đám mưa đầu mùa rớt hột, trời đất tự dưng mát rượi, xua đi cái hầm hập của mấy rày nắng gắt. Vậy là một mùa Phật đản nữa lại về. Ngó màn mưa giăng giăng trước hiên tịnh xá, tự dưng chúng con nhớ nụ cười hiền khô với mấy lời dạy mộc mạc, chất phác của Trưởng lão Hoà thượng Giác Tường.

     Ký ức bỗng ùa về sống động như mới hôm qua, chúng con nhớ về những ngày tháng theo chân Ngài. Con nhớ những buổi chụp hình, quay phim, rồi lại tĩnh lặng ngồi trước màn hình, biên tập từng đoạn video bài giảng của Ngài. Những đoạn clip đó đâu chỉ ghi lại bóng dáng tấm y vàng bá nạp phai sương của vị sư già Khất sĩ, mà còn gom giữ cả một bầu trời tuệ giác tưới mát cõi lòng chúng con và Phật tử. Rồi nhớ luôn cái không khí linh thiêng bữa lễ tắm Phật năm nảo năm nào. Giữa mùi trầm hương quyện bay, Trưởng lão thành kính nâng gáo nước thơm rưới lên tôn tượng đản sanh, tự dưng thấy cõi lòng mình bình yên lạ lùng, bao nhiêu lăng xăng lộn xộn của thế tục rớt rụng hết.

     Con nhớ rành rành cái giọng miền Tây ấm rân của Người mỗi bận mùa Phật đản tháng Tư. Trưởng lão Hoà thượng hay mượn cảnh vật quen thuộc để báo tin vui: “Hằng năm đến mùa hoa phượng nở, những cánh hồng e ấp mỉm cười cùng nắng hạ như báo tin mùa Phật đản đã đến…”. Nghe thương quá chừng! Mà đằng sau cái vẻ rặt ròng dân dã đó, qua mấy đoạn video con ngồi biên tập, Trưởng lão Hoà thượng đã trao cho tụi con một cái “kim chỉ nam”, đánh thức cái đám người còn ngụp lặn u mê bằng một câu nói để đời:

     “Không phải ngày sanh làm cho ngày giáng sanh trở nên bất tử mà chỉ có hành động của con người sau khi sanh làm cho ngày giáng sanh trở nên bất diệt.”

     Lời Ngài thốt ra nghe hiền khô, không ồn ào hay phô trương mà thấm thía tận tâm can, cởi trói luôn ba cái tín ngưỡng rườm rà. Trưởng lão Hoà thượng đem Đức Phật từ trên đài sen cao tít mù khơi xuống, làm tấm gương sáng rỡ cho bà con mình noi theo. Ngẫm cho kỹ, một câu nói, Người dạy bình dân vậy đó, nhưng đặt dưới lăng kính học thuật, nó lại khế hợp một cách uyên áo với những hệ tư tưởng thâm sâu trong kinh tạng mà chúng con được học trên trường lớp Phật học như:

     Thứ nhứt: Sanh ra ở đời, ai cũng như nấy.

     Trưởng lão nói thiệt tình, cách đây hơn 2500 năm, hồi Thái tử Sĩ Đạt Ta lọt lòng, thiếu cha gì mấy đứa nít khác cũng khóc ré lên chào đời. Nhiều đứa lớn lên trong gấm vóc lụa là, rồi rốt cuộc cũng vướng quy luật: sanh, già, bệnh, chết, rồi trôi tuột vào dĩ vãng. Ngài ví von làm con sực tỉnh: Nếu Thái tử cũng quanh quẩn ôm ngai vàng, vui thú vợ đẹp rượu ngon rồi nhường ngôi cho con mình, thì “có gì đâu mà chúng ta cần phải lưu tâm”. Cái vĩ đại đâu có dính dáng gì tới bệ phóng thân thế hay ngày giờ sanh đẻ.

     Cái lý mộc mạc này của Ngài chính là sự phản chiếu trọn vẹn tinh thần bình đẳng bạt ngàn mà Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết trong Kinh Kẻ Bần Tiện, trong Tiểu bộ kinh, Kinh tập:

     “Không phải do bẩm sinh mà trở thành bần tiện hay Bà-la-môn. Chỉ có hành động mới làm nên kẻ bần tiện, chỉ có hành động mới làm nên bậc Phạm hạnh.”

     Dưới góc nhìn triết học Phật giáo, giá trị cốt lõi của một kiếp nhân sinh không được đo đếm bằng giai cấp khi chào đời, mà được kiến tạo bởi nghiệp lực, tức là những tác ý và hành động dấn thân giữa dòng đời.

     Thứ hai: Cái tâm xả ly và dấn thân vì bá tánh.

    Chính mấy cái “hành động sau khi sanh” của Đức Phật mới đắp nặn nên bức tượng đài sống mãi. Ngài kể chuyện và đan xen ca dao, tục ngữ để nói về Thái tử xin đi tu, vua cha không chịu:

“Cá không ăn muối cá ương

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”.

     Xong, Ngài lại uyển chuyển bẻ lại câu thơ đập tan ba cái định kiến trói buộc của thế gian:

    “Cá không ăn muối cá tươi… nó ăn nước đá nó cũng tươi… Cãi vua cha đi tu thành được đạo quả”.

     Chê cái ngai vàng êm ái là “cái khám ngục mênh mông”, ngài bứt gông xiềng, vô rừng sâu nếm trải sáu năm khổ hạnh và 49 ngày đêm thiền định dưới cội Bồ Đề. Cái tinh thần “xả kỷ vị tha” ấy, trong nhãn quan học thuật, hiện lên như một tráng ca xuất ly được ghi tạc trong Kinh Thánh Cầu (Trung bộ kinh):

     “Khi tuổi còn trẻ, tóc đen nhánh, tràn đầy nhựa sống… cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”

     Hành động vĩ đại ấy là một sự khước từ triệt để cái tự ngã bé mọn, từ bỏ bến đỗ an toàn thế tục để dấn thân tìm cầu phương thuốc vô sanh diệt khổ cho vạn loại chúng sanh.

     Thứ ba: Lo mà “cải tạo bản tâm”.

     Từ chuyện Phật, Trưởng lão Hoà thượng dặn dò chúng con bằng cái lý lẽ hiền khô: “Ngày sanh của con người không quan trọng bằng hành động lúc sanh tiền”. Ngài mắng yêu mấy người tới mùa Phật đản chỉ khoái xúm lại làm rình rang bề ngoài, lạy lục xin xỏ mà quên mất tiêu cái nếp tu của Phật.

     Ngài nhắc: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Phật đi trước, thành đạo rồi, tụi mình lẽo đẽo theo sau mà chưa thành là tại tâm còn dính dấp tham, sân, si. Hành động “bất diệt” của người cư sĩ, tu sĩ đâu cần vác núi lấp sông, mà là rán dũng cảm nhìn nhận cái lỗi lầm hằng ngày, tự chà rửa để “cải tạo bản tâm của mình trở nên toàn chơn chí thiện”, để được làm Phật y như Phật.

     Lời răn bình dị ấy chính là phương pháp luận thực hành cốt tủy của Phật giáo, đúc kết trọn vẹn qua bài kệ kinh điển trong Kinh Pháp Cú, Kệ 183:

“Không làm mọi điều ác,

Thành tựu các hạnh lành,

Giữ tâm ý trong sạch,

Chính lời chư Phật dạy.”

     Sự “bất diệt” không nằm ở những hình thức huyễn hoặc, mà khởi sinh từ một sát-na chánh niệm rất đời thường: khi ta nhận diện, chuyển hóa và thanh lọc được lậu hoặc ngay giữa dòng chảy bon chen của thế tục.

     Mùa Phật đản năm nay, dẫu thân tứ đại của Trưỏng lão Hoà thượng đã theo quy luật thành, trụ, hoại, không mà tan vào mây ngàn gió núi, nhưng từng đoạn pháp âm quen thuộc, nghe lại cái giọng hiền khô mộc mạc đó, cõi lòng tụi con lại…!

     Bởi cái nếp sống thanh bần, chiếc y vàng chắp vá, cùng mấy lời răn dạy dân dã y chang hạt lúa củ khoai của Ngài lúc sanh tiền… rốt cuộc lại là minh chứng sắc nét nhứt cho sự bất diệt ấy trong tâm trí tụi con.

     Chúng con xin khắc cốt ghi tâm, nguyện đem mấy lời pháp âm thức tỉnh đó ra mà ráng thực hành trong đời sống. Chúng con sẽ dùng chính những “hành động sau khi sanh”, là ráng sống hiền lương, làm người tử tế, ráng cạo rửa cho sạch mấy cái thói hư tật xấu hằng ngày để gọt giũa bản tâm mình cho đàng hoàng, vững chãi hơn. Chỉ có ráng sống, ráng sửa mình như vậy thì mới mong không cô phụ ơn đức của chư Phật, Tổ thầy và một vị ân sư chân quê mà vĩ đại.

     Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Ngày đầu tháng mùa Phật đản PL.2570 – DL.2026

TXTT, 17/5/2026 (01.04.Bính Ngọ) – Quang Toàn Thành Anh

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây